​Tóm tắt

Trong hệ thống thư viện Quân đội nhân dân Việt Nam, Thư viện Quân đội/TCCT giữ vai trò là cơ quan nghiệp vụ đầu ngành, có chức năng hướng dẫn, chuẩn hóa và hỗ trợ chuyên môn đối với các thư viện trong toàn quân. Thực tiễn hoạt động của Thư viện Học viện Chính trị cho thấy, sự hướng dẫn, hỗ trợ về nghiệp vụ của Thư viện Quân đội có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động thư viện, phát triển nguồn lực thông tin và từng bước đẩy mạnh chuyển đổi số. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng thư viện hiện đại, vai trò của Thư viện Quân đội càng cần được phát huy, nhất là trong định hướng nghiệp vụ, chuẩn hóa hoạt động, kết nối, chia sẻ nguồn lực và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác thư viện. Qua đó, góp phần xây dựng Thư viện Học viện Chính trị theo hướng hiện đại, chuyên sâu, liên thông, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của cán bộ, giảng viên, học viên và yêu cầu nhiệm vụ của Học viện trong tình hình mới.

Từ khóa: Thư viện Quân đội; Thư viện Học viện Chính trị; chỉ đạo nghiệp vụ; hướng dẫn nghiệp vụ; chuyển đổi số; thư viện hiện đại.

Đặt vấn đề

Trong suốt 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (1951-2026), Học viện Chính trị (Học viện) - “cái nôi” đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự của Quân đội. Xác định rõ phương châm chỉ đạo “Chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” của Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chỉ lệnh số 971/CT-TM ngày 04-12-2020 về công tác quân sự, quốc phòng năm 2021, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị và sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Để đáp ứng yêu cầu đó, bên cạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo, việc bảo đảm đầy đủ, đồng bộ các điều kiện phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện. Trong đó, công tác thông tin - thư viện giữ vị trí thiết yếu, trực tiếp cung cấp, tổ chức và phục vụ khai thác nguồn thông tin, tư liệu, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, qua đó góp phần xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu và phát triển văn hóa đọc trong Học viện.

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và yêu cầu chuyển đổi số, hoạt động thư viện đang có sự chuyển biến từ mô hình cung cấp tài liệu truyền thống sang tổ chức, kết nối và cung cấp các nguồn lực thông tin đa dạng, hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin. Trong bối cảnh đó, xây dựng Thư viện Học viện Chính trị theo hướng hiện đại không chỉ đặt ra yêu cầu về cơ sở vật chất, nguồn lực thông tin và công nghệ, mà còn đòi hỏi sự thống nhất về nghiệp vụ, nâng cao năng lực đội ngũ, đổi mới phương thức phục vụ và tăng cường liên thông, chia sẻ nguồn lực trong hệ thống thư viện Quân đội. Đây là quá trình cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan nghiệp vụ đầu ngành và thư viện các đơn vị, nhà trường, trong đó Thư viện Quân đội giữ vai trò quan trọng trong chỉ đạo, hướng dẫn, chuẩn hóa nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ chuyên môn.

Thực tiễn hoạt động của Thư viện Học viện Chính trị những năm qua cho thấy, công tác thông tin - thư viện đã có bước phát triển tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Học viện Chính trị chính quy, hiện đại và đẩy mạnh chuyển đổi số, hoạt động thư viện vẫn cần tiếp tục đổi mới cả về tổ chức nguồn lực, chuẩn hóa nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ và phương thức phục vụ. Vì vậy, phát huy vai trò của Thư viện Quân đội trong chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ chuyên môn và kết nối nguồn lực có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình xây dựng Thư viện Học viện Chính trị hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng thông tin phục vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện.

1. Thư viện Quân đội với vai trò cơ quan nghiệp vụ đầu ngành và yêu cầu mới đặt ra

Thư viện Quân đội được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1957 theo Chỉ thị của Tổng Quân ủy, trực tiếp là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ những ngày đầu thành lập với 03 cán bộ và khoảng 500 cuốn sách, qua gần 70 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Thư viện Quân đội luôn giữ vai trò là thư viện khoa học tổng hợp chuyên ngành quân sự cấp Nhà nước, đồng thời là cơ quan nghiệp vụ đầu ngành, giữ vai trò nòng cốt trong hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ đối với hệ thống thư viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Vai trò đầu ngành trước hết được thể hiện qua việc tham mưu, định hướng và hướng dẫn thống nhất hoạt động nghiệp vụ trong toàn quân. Từ xây dựng quy trình, hướng dẫn chuyên môn đến bồi dưỡng đội ngũ, kiểm tra, sơ kết, tổng kết và trao đổi kinh nghiệm, Thư viện Quân đội có điều kiện tích lũy, tổng hợp và phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các thư viện trong toàn quân. Cùng với đó là quy trình chuẩn hóa nghiệp vụ. Trong điều kiện xây dựng hệ thống thư viện hiện đại, chuẩn hóa không chỉ nhằm bảo đảm các khâu nghiệp vụ được thực hiện thống nhất mà còn tạo nền tảng cho khả năng trao đổi và liên thông dữ liệu. Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ như MARC21, DDC, AACR2, RDA và các quy chuẩn liên quan tạo điều kiện để từng bước hình thành môi trường dữ liệu thống nhất trong hệ thống thư viện quân đội.

Hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu tại thư viện của các cán bộ, học viên Học viện Chính trị.

Từ yêu cầu thực tiễn đó, vai trò của Thư viện Quân đội cần tiếp tục được phát huy theo hướng toàn diện hơn, không chỉ ở tham mưu, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ mà còn ở chuẩn hóa, đào tạo, tư vấn, hỗ trợ chuyên môn, kết nối, chia sẻ nguồn lực và chuyển giao công nghệ. Đây là hướng phát triển phù hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống thư viện quân đội hiện đại, đồng thời tạo cơ sở để Thư viện Quân đội hỗ trợ hiệu quả các thư viện trong toàn quân, nhất là những thư viện trực tiếp phục vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học như Thư viện Học viện Chính trị.

2. Thực tiễn hoạt động của Thư viện Học viện Chính trị và những vấn đề đặt ra

Kết quả đạt được

Thời gian qua, công tác thư viện tại Học viện Chính trị luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện; sự chỉ đạo, giúp đỡ của cơ quan nghiệp vụ cấp trên, trong đó có Thư viện Quân đội/Tổng cục Chính trị và Cục Khoa học quân sự/Bộ Quốc phòng; sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Học viện. Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác thư viện cơ bản có trình độ, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ tốt.

Cơ sở vật chất của Thư viện từng bước được củng cố. Hệ thống thư viện có diện tích sử dụng khoảng 2.400 m², gồm phòng đọc tổng hợp, 02 phòng đọc số với 100 máy tính kết nối mạng truyền dữ liệu quân sự Misten, phòng giáo trình khoa học xã hội và nhân văn quân sự, phòng giáo trình quân sự, phòng mượn sách, tài liệu và phòng nghiệp vụ. Nguồn lực thông tin tương đối phong phú, với khoảng 271 nghìn cuốn sách, trong đó hơn 191 nghìn cuốn giáo khoa, giáo trình và gần 80 nghìn cuốn sách, tài liệu tham khảo, chuyên khảo; hơn 6.000 đề tài khoa học các cấp, luận văn, luận án; hàng vạn bản tạp chí, báo và hàng trăm sách tra cứu. Thư viện số có khoảng 6 triệu trang tài liệu toàn văn và hơn 62.000 biểu ghi cơ sở dữ liệu thư mục.

Những kết quả này cho thấy Thư viện Học viện Chính trị đã có nền tảng nguồn lực tương đối toàn diện, vừa đáp ứng yêu cầu phục vụ trực tiếp tại thư viện, vừa từng bước đáp ứng yêu cầu khai thác thông tin trên môi trường số. Cùng với phục vụ truyền thống, hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách và cung cấp thông tin được đổi mới theo hướng ứng dụng công nghệ. Thư viện sử dụng mã QR trong giới thiệu sách, tài liệu mới; giới thiệu sách tại Hội nghị Thông tin khoa học hằng tháng bằng video clip có ứng dụng công nghệ AI trong thuyết minh; tổ chức tìm tin, thông tin chọn lọc, thông tin theo yêu cầu, tư vấn thông tin; trưng bày, triển lãm sách, báo. Riêng năm 2025, đã tổ chức 18 đợt trưng bày, triển lãm sách. Công tác nghiệp vụ được thực hiện tương đối đồng bộ. Thư viện áp dụng tiêu chuẩn ISBD trong biên mục, bảng phân loại 19 lớp của Thư viện Quốc gia, phần mềm ILib8.0 và khổ mẫu MARC21. Năm 2025, đã nhập 840 biểu ghi cơ sở dữ liệu thư mục, đăng ký cá biệt 8.503 cuốn sách, tài liệu. Đáng chú ý, công tác số hóa có bước tiến rõ rệt. Trong năm 2025, Thư viện đã số hóa 1.334 tên sách, giáo trình, tài liệu tham khảo với hơn 400.000 trang tài liệu toàn văn. Đồng thời, đã biên soạn, xuất bản 34 ấn phẩm thông tin khoa học với gần 2.000 bản và xây dựng 22 sản phẩm thông tin nghe nhìn đăng tải trên Website của Học viện.

Như vậy, xét trên các phương diện cơ sở vật chất, nguồn lực thông tin, nghiệp vụ, phục vụ bạn đọc và chuyển đổi số, Thư viện Học viện Chính trị đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, tạo nền tảng để tiếp tục xây dựng mô hình thư viện hiện đại.

Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động thư viện vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Báo cáo kết quả công tác thư viện năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ công tác thư viện năm 2026 của Học viện chỉ rõ chất lượng số hóa tài liệu còn có sai sót, nhất là đối với sách, tài liệu cũ; một số trang thiết bị như máy tính tra cứu, bàn, ghế bạn đọc đã xuống cấp. Nguồn ngân sách dành cho công tác thư viện còn hạn hẹp, một số trang thiết bị được đầu tư từ lâu chưa được bổ sung, thay thế.

Mặt khác, trước yêu cầu chuyển đổi số, vấn đề không chỉ nằm ở việc “có thư viện số” hay “có tài liệu số” mà còn ở chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, tìm kiếm, khai thác và chia sẻ. Nếu dữ liệu được tạo lập thiếu thống nhất, quá trình số hóa không được kiểm soát chặt chẽ hoặc đội ngũ chưa làm chủ công nghệ thì việc đầu tư trang thiết bị và phần mềm khó phát huy đầy đủ hiệu quả. Đội ngũ cán bộ cũng đứng trước yêu cầu mới, một số cán bộ, nhân viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ so với yêu cầu; đồng thời nhân sự có biến động do nghỉ hưu, chuyển đơn vị, đi học và các nguyên nhân khác.

Từ thực tiễn trên, để Thư viện Học viện Chính trị thực sự phát huy hiệu quả là trung tâm tri thức của Học viện cần phải tiếp tục phát huy những nền tảng đã có, đồng thời khắc phục những điểm nghẽn về chuẩn hóa dữ liệu, chất lượng số hóa, cơ sở vật chất, nhân lực và phương thức phục vụ. Trong quá trình đó, vai trò hỗ trợ, hướng dẫn nghiệp vụ của Thư viện Quân đội cần được phát huy theo hướng thực chất và thường xuyên hơn.

3. Giải pháp phát huy vai trò của Thư viện Quân đội góp phần xây dựng Thư viện Học viện Chính trị hiện đại

Một là, đổi mới phương thức chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo

Để phát huy tốt hơn vai trò cơ quan nghiệp vụ đầu ngành, Thư viện Quân đội cần tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo, hướng dẫn theo hướng thường xuyên, chuyên sâu, trực tiếp và sát thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, cùng với việc ban hành và phổ biến các quy định, hướng dẫn nghiệp vụ, điều quan trọng là phải giúp các thư viện vận dụng hiệu quả vào điều kiện cụ thể. Đối với Thư viện Học viện Chính trị, sự hỗ trợ của Thư viện Quân đội cần tập trung vào những vấn đề mà Học viện đang trực tiếp gặp phải, như chuẩn hóa dữ liệu, số hóa tài liệu cũ, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, ứng dụng AI, phát triển dịch vụ thông tin số và nâng cao trình độ cán bộ.

Do đó, cần từng bước chuyển từ phương thức “hướng dẫn một lần” sang “hướng dẫn và đồng hành trong quá trình thực hiện”. Thư viện Quân đội có thể tổ chức các nhóm chuyên môn hoặc cán bộ đầu mối để tư vấn, trao đổi, giải đáp những vấn đề nghiệp vụ phát sinh, đánh giá và rút kinh nghiệm. Cách làm này không làm thay đổi vị trí, chức năng của từng cơ quan mà tạo ra cơ chế phối hợp chuyên môn chặt chẽ hơn, giúp việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ thực sự đi vào chiều sâu.

Hai là, lấy chuẩn hóa nghiệp vụ và chuyển đổi số làm nền tảng của quá trình hiện đại hóa

Hiện đại hóa thư viện trước hết phải bắt đầu từ chuẩn hóa nghiệp vụ và chuẩn hóa dữ liệu. Đây là điều kiện để xây dựng cơ sở dữ liệu có chất lượng, tổ chức liên thông và triển khai các ứng dụng công nghệ mới.Thư viện Học viện Chính trị đã có nền tảng tương đối thuận lợi khi thực hiện biên mục theo ISBD, phân loại theo bảng phân loại 19 lớp, sử dụng ILib8.0 và MARC21. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tiếp theo là nâng cao hơn nữa chất lượng biểu ghi, thống nhất dữ liệu, kiểm soát dữ liệu và xây dựng khả năng khai thác dữ liệu trên môi trường số.

Vì vậy, Thư viện Quân đội cần tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ Học viện chuẩn hóa các khâu: biên mục, mô tả, định từ khóa, tóm tắt, phân loại, xây dựng biểu ghi, tổ chức kho, bảo quản và số hóa tài liệu. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các tiêu chí kiểm soát chất lượng dữ liệu và chất lượng số hóa.Đối với tài liệu cũ, tài liệu có giá trị lịch sử, tài liệu chuyên ngành chính trị - quân sự, việc số hóa cần được thực hiện theo thứ tự ưu tiên, gắn với giá trị sử dụng và nhu cầu khai thác. Trên nền tảng dữ liệu được chuẩn hóa, Thư viện Quân đội có thể tiếp tục hỗ trợ Học viện nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo như biên mục có sự hỗ trợ của AI, trợ lý thư viện AI, tìm kiếm bằng ngôn ngữ tự nhiên, phân tích nhu cầu bạn đọc…Tuy nhiên, ứng dụng AI cần được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ cán bộ thư viện, không thay thế hoàn toàn vai trò kiểm tra, thẩm định và chịu trách nhiệm nghiệp vụ của con người. Đặc biệt, đối với tài liệu thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, việc ứng dụng công nghệ phải gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Ba là, tăng cường kết nối, chia sẻ nguồn lực, hình thành hệ sinh thái tài nguyên thông tin quân đội

Một trong những hạn chế của mô hình thư viện truyền thống là nguồn lực thông tin bị giới hạn trong phạm vi từng cơ quan. Chuyển đổi số mở ra khả năng khắc phục hạn chế này thông qua kết nối và chia sẻ dữ liệu.Với vị trí cơ quan nghiệp vụ đầu ngành, Thư viện Quân đội cần phát huy vai trò đầu mối thúc đẩy kết nối nguồn lực giữa các thư viện quân đội. Đối với Thư viện Học viện Chính trị, đây là hướng có nhiều tiềm năng bởi Học viện đang sở hữu khối lượng lớn tài liệu chuyên ngành, đặc biệt là tài liệu phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, đề tài khoa học, kỷ yếu hội thảo và các nguồn tài liệu nội sinh khác.Cần từng bước tổ chức các nguồn tài liệu này thành những bộ sưu tập số chuyên sâu, có cấu trúc và dữ liệu mô tả thống nhất, thuận lợi cho tìm kiếm, khai thác và chia sẻ trong phạm vi được phép.

Khi nguồn tài nguyên được chuẩn hóa và kết nối, người dùng tin không nhất thiết phải phụ thuộc vào số lượng tài liệu vật lý của từng thư viện. Thư viện sẽ chuyển dần từ mô hình “kho tài liệu tại chỗ” sang “đầu mối kết nối tri thức”. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả đầu tư. Thay vì mỗi thư viện phải độc lập bổ sung, xử lý và số hóa tất cả các nhóm tài liệu, hệ thống có thể tăng cường phân công, phối hợp và chia sẻ, qua đó sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của toàn quân.

Bốn là, xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp, đổi mới phục vụ và lấy người dùng tin làm trung tâm

Con người là yếu tố quyết định khả năng vận hành thư viện hiện đại. Trong điều kiện công nghệ thay đổi nhanh, cán bộ thư viện không chỉ cần nắm chắc nghiệp vụ truyền thống mà còn phải có năng lực quản trị dữ liệu, khai thác công nghệ, tổ chức thông tin số và hỗ trợ nghiên cứu khoa học.Vì vậy, Thư viện Quân đội cần tiếp tục phối hợp với Học viện Chính trị tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ theo hướng đúng nhu cầu, đúng vị trí và gắn với những vấn đề thực tễn đặt ra[1]. Cùng với đó, cần đổi mới phương thức phục vụ. Hoạt động thư viện phải từng bước chuyển từ tư duy “bạn đọc đến thư viện để tìm tài liệu” sang “thư viện chủ động đưa thông tin đến bạn đọc”.Qua đó, thư viện không chỉ làm nhiệm vụ “phục vụ sách” mà trở thành “trợ thủ thông tin và tri thức” của giảng viên, học viên và cán bộ nghiên cứu.

Kết luận

Xây dựng Thư viện Học viện Chính trị hiện đại là yêu cầu khách quan xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Học viện và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Những kết quả đạt được trong thời gian qua, đặc biệt trong xây dựng nguồn lực thông tin, phát triển thư viện số, chuẩn hóa nghiệp vụ, số hóa tài liệu và đổi mới phương thức phục vụ, đã tạo tiền đề quan trọng để Thư viện Học viện tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, hiện đại hóa thư viện không chỉ được đo bằng số lượng sách, máy tính hay tài liệu được số hóa mà là hiện đại hóa phương thức quản trị, chuẩn hóa nghiệp vụ, nâng cao chất lượng dữ liệu, phát triển nguồn tài nguyên số, đổi mới dịch vụ thông tin và xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm chủ công nghệ.Trong quá trình đó, Thư viện Quân đội với vị trí là cơ quan nghiệp vụ đầu ngành cần tiếp tục phát huy vai trò không chỉ ở chỉ đạo, hướng dẫn mà còn ở tham mưu, chuẩn hóa, đào tạo, tư vấn, hỗ trợ, kết nối và chia sẻ nguồn lực. Phát huy tốt vai trò của Thư viện Quân đội trên các phương diện đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thông tin - thư viện, phục vụ hiệu quả hơn nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học của Học viện, đồng thời góp phần xây dựng hệ thống thư viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam thống nhất, hiện đại và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Quốc phòng - Học viện Chính trị, Báo cáo số 3325/BC-HV ngày 10/11/2025 của Học viện Chính trị vềkết quả công tác thư viện năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ công tác thư viện năm 2026.

2.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Thư viện số 46/2019/QH14, ngày 21/11/2019.

3.Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Quyết định số 415/QĐ-CT ngày 22/4/2005 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạnvà mối quan hệ công tác của Thư viện Quân đội.

[1] Theo Báo cáo số 3325/BC-HV ngày 10/11/2025 của Học viện Chính trị về kết quả công tác thư viện năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ công tác thư viện năm 2026, Học viện đã cử 02 cán bộ, nhân viên tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do Cục Khoa học quân sự/Bộ Quốc phòng và Thư viện Quân đội/Tổng cục Chính trị tổ chức; 100% cán bộ, nhân viên tham gia các chương trình học tập, huấn luyện do Học viện tổ chức.


Đại tá, Thạc sĩ Mạc Thùy Dương, Giám đốc Thư viện Quân độ/TCCT
Nguồn: TVQĐ